Login

Cùng nhau khám phá thế giới công nghệ thông tin

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Sự kết hợp hoàn hảo

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Enter để bước vào thế giới Công nghệ thông tin

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Công nghệ thông tin có những biến đổi vượt bậc

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Đột phá mang tính sáng tạo

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Giải mã cảm giác bị "hồn ma theo dõi"

Đã bao giờ bạn ở một mình và đột nhiên cảm thấy mình đang bị theo dõi bởi một ai đó từ phía sau lưng, điển hình là khi ngủ một mình vào ban đêm? Bạn liên tục giật mình quay lại nhưng không hề thấy gì hết, trong người bạn bắt đầu dâng trào cảm giác bất an như thể mình đang bị theo dõi và bám theo dù chẳng có bất kì ai thực sự ở đó cả. Đây thực sự là một trải nghiệm khá căng thẳng và đáng sợ, đặc biệt đối với những người yếu bóng vía, họ cảm thấy như thể mình đang bị ma ám vậy.


Đừng lo lắng, cảm giác mình đang bị ai đó theo dõi và nhìn theo chỉ là một cơ chế hoạt động theo bản năng của con người được hình thành và hoàn thiện trong quá trình tiến hóa. Nó giúp chúng ta cảnh báo cũng như sẵn sàng phản ứng lại một điều gì đó có khả năng tác động vào mình trước khi nó thực sự xảy ra. Hiện tượng nào thường xảy ra khi mà sự cảnh giác của chúng ta dựa vào thị giác bị vô hiệu hóa bởi bóng tối chẳng hạn.


Kết quả nghiên cứu mới đây của giáo sư Colin Clifford, chuyên ngành tâm lí học tại Đại học Sydney, đã cho thấy trong cơ thể con người tồn tại một cơ chế lí tính khiến họ tin rằng mình đang bị ai đó theo dõi. Một cái nhìn trực tiếp cũng có thể báo hiệu một mối nguy hiểm và nếu bạn nhận ra điều này, bạn sẽ chẳng muốn lơ là với mối hiểm nguy đó dù cho nó thực sự không tồn tại. Vì thế, não bộ sẽ tự nhận định rằng bạn đang ai đó theo dõi như là một giải pháp phản ứng an toàn và đơn giản.


Để chứng minh kết luận này, vị giáo sư đã nhờ một nhóm tình nguyện viên để xác định xem cả nhóm đang tập trung nhìn về hướng nào trong điều kiện không thể nhận biết rõ ràng những người xung quanh mình đang chú ý vào đâu. Ngay cả khi không diễn tả được hướng nhìn của mình, những người tham gia đều có cảm thấy dường như mình đang bị ai đó theo dõi. Giáo sư Colin hi vọng các nghiên cứu sâu sắc hơn sẽ giúp xác định được đây là một hành vi được học theo hay là một đặc tính di truyền. Qua đó, chúng ta có thể tìm ra lí do khiến một số người tự kỉ lại trở nên khó nói chuyện khi bị ai đó nhìn vào hay tại sao những người hay lo lắng lại có tần suất cảm thấy bị theo dõi nhiều hơn bình thường.
Nguồn: khoahoc.com.vn

Bị rắn độc ‘trả thù’ dân tình khiếp sợ

Thấy rắn giãy mạnh rồi nằm im, người đàn ông 54 tuổi định bắt bằng tay thì không ngờ nó vẫn sống, quay đầu cắn “trả thù”.

Tối ngày 16/12, khoa cấp cứu Bệnh viện đa khoa trung tâm tỉnh An Giang tiếp nhận ông Nguyễn Hồng Hớn ngụ xã Bình Long, huyện Châu Phú (An Giang) trong tình trạng ngưng tim, ngưng thở vì bị rắn cắn.

Người nhà cho biết hôm qua ông Hớn đi công việc ở TP Long Xuyên. Về đến thị trấn An Châu (Châu Thành, An Giang) phát hiện con bò sát màu nâu đen, to bằng bắp tay bò ngang quốc lộ 91, ông Hớn tìm cách đánh xe máy cán lên.


Thấy rắn giãy mạnh rồi nằm im, người đàn ông 54 tuổi quay lại bắt bằng tay vì tưởng con bò sát đã chết, không ngờ nó vẫn còn sống, quay đầu cắn “trả thù”.

Nghe ông này kêu cứu, người dân ấp Hòa Long 3, thị trấn An Châu chạy ra đường soi đèn đập chết rắn độc rồi cho vào túi nilon chuyển theo bệnh nhân lên bệnh viện. Ngay trong đêm ông Hớn được tiêm huyết thanh kháng độc, cho thở máy nhưng đến trưa ngày 17/12 vẫn còn hôn mê vì độc tố đã tấn công vào hệ thần kinh gây ảnh hưởng đến hệ hô hấp, liệt cơ chi và cơ tim.

Qua kiểm tra, đây là rắn hổ đất, nặng 3 kg, dài khoảng 1,5 m.
Ngọc Huỳnh

Sự thật về hủ tục thiêu trinh nữ tế thần


Nữ thần quyền năng Pônagar từng được các bậc vua chúa Champa ngày trước dâng cúng vàng bạc
Nhắc đến Khánh Hòa, người ta thường liên tưởng đến vùng non nước xinh đẹp tựa chốn bồng lai. Có mấy ai ngờ được nơi này từng tồn tại hủ tục ghê rợn - thiêu sống người - để làm vui lòng quỷ thần.
Đây không phải là chuyện hoang đường, giật gân mà là chuyện có thật. Ở cái thời mộng muội ấy, người ta tin rằng việc "cúng người" cho thủy thần sẽ giúp họ xuôi chèo mát mái khi lênh đênh giữa đại dương và bội thu mùa vụ. Cũng may là chuyện kinh hoàng ấy nay chỉ còn trong hồi ức của những người già…

Kinh khiếp không kém gì hủ tục dọ-tơm-amí (chôn sống trẻ sơ sinh theo người mẹ đã chết ở một số tộc người trên đất Tây Nguyên), ngay khi hay tin về tục lệ dâng cúng và hỏa thiêu trinh nữ gắn liền với đồi Cù Lao - nơi tọa lạc cụm tháp cổ Pônagar hơn 1.000 năm tuổi, tọa lạc giữa lòng thành phố biển Nha Trang, PV lập tức lên đường...

Cần nói rõ rằng thông tin rùng rợn này được tiết lộ từ ông T.Kính, một người buôn bán đồ cổ có tiếng ở phố cổ vật Lê Công Kiều, quận 1, TP HCM. Theo ông Kính, ông biết được hủ tục quái dị và độc ác kia từ chia sẻ của một người tên là Phước Bồn ở Ninh Thuận. Hỏi thông tin về người này, ông Kính nói rằng đặc thù nghề nghiệp không cho phép ông tiết lộ thông tin khách hàng. Chỉ biết rằng khi giao dịch, trao đổi cổ vật với ông vào đầu năm 2013, trong lúc trà dư tửu hậu, ông Phước Bồn đã tiết lộ cho ông Kính biết được câu chuyện dâng cúng và hỏa thiêu nô lệ là trinh nữ được ghi rõ trên các bia ký cổ ở cụm tháp Pônagar.

"Ông Phước Bồn quả quyết với tôi rằng các bia ký ghi rất rõ lý do, cách thức mà các bậc quyền quý dâng cúng nô lệ cũng như quá trình nô lệ được hỏa thiêu để làm vui lòng các vị thần... Tôi nghĩ đây là thông tin hay, nhưng để làm rõ sự thật đòi hỏi phải rất dày công." - ông Kính, thổ lộ.



Toàn cảnh cụm tháp cổ Pônagar; và tượng thần Siva - nữ thần quyền năng từng được nhiều người hiểu lầm là vũ nữ được tế thần

Trở ngược về quá khứ của hơn ngàn năm trước, từ những lời đồn đại ghi nhận được, chúng tôi rất đỗi kinh ngạc lẫn kinh hoàng khi biết được rằng ngày trước, để giữ vững ngôi báu, để đánh trận toàn thắng, hay chỉ đơn giản để làm vui lòng nữ thần Pônagar và các vị thần quyền năng khác trên "đỉnh đồi vàng" (nơi có thánh đường thiêng linh được Vua Harivarman cho phục hồi, xây dựng kiên cố vào năm 817, đến nay cũng đã gần 1200 năm), các vua Champa cùng những người được xem là hoàng thân quốc thích có tục dâng cúng vàng bạc, ngọc ngà châu báu và nô lệ. Khi bị "tiến cống" cho nữ thần quyền năng, số phận của những nô lệ vô cùng bi đát với cái chết thảm khốc luôn chực chờ…

Chuyện vua chúa Champa dâng cúng của cải, đất đai cho Bà chúa xứ sở Pônagar được chứng minh rất rõ về những lần dâng cho thần linh của cải quý hiếm bậc nhất của vua Champa cùng những người trong hoàng tộc. Lúc bấy giờ những tư liệu cổ mà chúng tôi tiếp cận không thấy đề cập đến chuỵên "cúng" và thiêu người. Thế nên có hay không câu chuyện người tế người trên đỉnh đồi vàng? Có hay không chuyện vào những khi hành lễ, nô lệ là trinh nữ sẽ bị giết hại, bị ném xuống vực sâu? Và có hay không chuyện không ít nô lệ bị chôn sống cùng những của cải, báu vật mà các triều vua Champa dâng cúng cho các vị thần linh trên "đỉnh đồi vàng"…?

Những khúc mắc ấy đã thôi thúc chúng tôi tìm hiểu sự thật. Càng vào cuộc càng rõ được rằng về cơ bản, đó chỉ là những truyền thuyết được lưu truyền theo kiểu miệng truyền miệng trong nhân gian, hay chỉ là những hồi ức qua lời kể từ cha ông của những người già nên chẳng mấy cơ sở thuyết phục. Không ít người khi biết chuyện cho rằng đó chỉ là những đồn đoán vô căn cứ, hoang đường bởi chẳng có văn tự, hình ảnh gì thể hiện tục ấy.

Ông Cham Sanh, 56 tuổi, nghệ nhân vỗ trống paranưng - loại trống cổ dùng trong ngày đại lễ, cho rằng nếu có tục dâng cúng nô lệ gắn liền với những cuộc hành quyết thì hẳn là người ta đã tìm thấy xương cốt của những nô lệ xấu số quanh khu đền tháp. Đằng này hàng trăm năm qua, chưa thấy có bất kỳ ghi nhận nào đề cập đến việc tìm thấy cốt người trên đỉnh đồi Cù Lao hay tại các khu vực rải rác dưới chân cụm tháp cổ.

Gắn truyền thuyết với thực tại, khi chẳng có gì để minh chứng cho hủ tục cúng tế người ở Tháp Bà Pônagar, giữa lúc định khép lại sự việc thì may sao, chừng như biết được nỗi băn khoăn, tiếc nuối của hậu thế trong việc cố gắng vén tấm màn bí mật gắn liền với tháp cổ ngàn năm nên nữ thần Pônagar đã "cho" chúng tôi tiếp cận được những tài liệu quý báu về bản dịch của hai nhà nghiên cứu người Pháp là Karl-Heinz Golzio và R.C.Mạumdar (bản dịch tiếng Anh) có nhắc đến tục dâng cúng nô lệ cho nữ thần ở Pônagar, được thể hiện qua những bia ký bằng chữ Chăm cổ được các học giả tìm thấy quanh cụm tháp hơn 1.000 năm tuổi. Những tư liệu này thể hiện vua chúa Chăm ngoài những vàng bạc, ngọc ngà còn dâng cúng cho nữ thần nhiều đất đai và hẳn nhiên, có cả những nô lệ.

Bia ký gồm 4 dòng về triều Vua Ratnavali năm 1197 saka (niên kỷ theo lịch Chăm) được khắc trên mặt C trụ cửa bên trái của một tòa tháp nay đã lụi tàn, có nói về những lần vua chúa dâng cúng vật báu và nô lệ cho nữ thần: "Những cánh đồng ở hai nơi, tại Panran giá trị 50 jak, những cánh đồng của Yan Vatuv trị giá 50 jak. Những cánh đồng ở Huma Padan, 100 jak. Những cánh đồng trên và các nô lệ cùng tất cả đồ vật được ghi lên đây, Công chúa Ratnavali đã dâng tất cả những người và vật trên cho nữ thần Bhagavati matrlingesvari vào năm saka 1197".

Chuyện cúng nô lệ cho nữ thần rõ hơn dưới thời Vua Indravarman IV (thế kỷ XII): "Kính lạy thần Siva. Đây là sự kết án đối với Padyop, kẻ đã nói những điều ác. Đức ngài Indravarman, Hoàng tử Sri Harideva xứ Sila-vandha-vijaya hiến dâng cho thần Sri Indravarmasivalingesvara 3 đứa trẻ tên là Mok, Yan và Krana của bà bẹ Padyop".

Tấm bia ký không nói rõ 3 đứa trẻ kia bị dâng cúng cho thần Siva để phục dịch cho các thần vì chúng gây tội và bị bắt trừng phạt, hay vì giữa chúng có mối liên hệ tâm linh nào đó giữa người phàm với các vị thần nhưng qua tìm hiểu sơ bộ, chúng tôi được biết 3 đứa trẻ được dâng cho thần kia là con nhà quyền quý có cha mẹ gây lỗi lầm với triều đình. Cần nói rõ đây chỉ là đoán định nhưng chúng tôi có niềm tin cho cơ sở ấy, nhất là khi dòng bia ký có nhắc đến những cụm từ liên quan đến sự trừng phạt này: "Đây là sự kết án đối với Padyop, kẻ đã nói những điều ác".

Chiếu theo ghi chép cổ xưa kia thì nô lệ được dâng cúng cho nữ thần phần lớn là trẻ em. Nhưng từ cuộc dâng cúng của Công chúa Suryadevi (niên đại 1189 saka), "viên ngọc tuyệt hảo của triều đình ở Manahvijaya, con gái Đức vua Jaya Indravarmadeva Paramodbhava và Hoàng hậu Sri Paramaratnastri", mới rõ giới quý tộc ngày trước còn dâng cúng những con voi, các nô lệ nam và nữ cùng các cánh đồng… "Vào năm saka 1178, Công chúa Ratnavali quý phái dâng cho nữ thần Punagara một tharan bạc nặng 15 thil, một đồ trang sức đeo ngực bằng vàng nặng 1 thil 5 dram, một vòng đeo cổ bạc 15 thil. Rồi thì sau đó, quý bà Pulyan Ratnavali đã cho xác lập những quy định đối với các Devadasi (các vũ nữ) chuyên phục vụ và làm vui cho nữ thần Punagara".

Bên cạnh các bia ký bằng chữ Chăm, các nhà nghiên cứu, chuyên gia khảo cổ còn tìm thấy nhiều bia ký được khắc bằng chữ Sansrit - một kiểu chữ cổ của người Champa. Trong những bia ký này, có nhiều bia ký đề cập đến việc dâng cúng vàng bạc, châu báu và nô lệ cho các vị thần.

Bia ký số 2 triều Vua Harivarman I, niên đại 739 saka (817 sau CN) khắc trên mặt thứ 3 chiếc trụ cửa của ngôi đền với 31 dòng bằng chữ Sanskrit: "Vào năm Saka 739, tháng Jyaistha, ngày nhật thực, để đảm bảo cho những giá trị tôn giáo trên thế giới, vì thanh danh trên thế giới này và vì sự cứu rỗi ở thế giới bên kia, sau khi cho làm pho tượng nữ thần mới bằng đá và trang điểm cho tượng những đồ trang sức khác nhau, đức vua đã lại xây dựng đền thờ Linga Sandhaka, đền thờ Sri Vinayaka và đền thờ Sri Maladakuthara, và ngài đã trang hoàng cho khu đền bằng những mandapa (những gian phòng) và những chiếc cổng đẹp lộng lẫy! Đức vua còn dâng cho Mahabhagavati vàng, bạc, châu ngọc, vải vóc các màu khác nhau và những đồ vật khác. Sau đấy, ngài còn dâng cho Đại nữ thần ruộng đồng ở vùng quê Kauthara (Khánh Hòa ngày nay - PV) cùng những nô lệ đàn ông, đàn bà, bò trâu…".



Nữ thần quyền năng Pônagar từng được các bậc vua chúa Champa ngày trước dâng cúng vàng bạc

Dù đã cất công tìm hiểu nhưng chúng tôi chẳng tìm thấy ghi chép cổ nào của người Chăm xưa đề cập đến việc sau khi được dâng cúng cho nữ thần, số phận của các nô lệ gồm trẻ em, trinh nữ sẽ ra sao. Họ sẽ bị giết hại để linh hồn vĩnh viễn hầu thần, hay một khi bị dâng cúng, họ sẽ phải hầu hạ các vị thần được thờ phụng trên cụm tháp cổ Pônagar đến suốt cuộc đời.

Những khúc mắc này của hậu thế đã được Vua Sri Satyavarman giải đáp sau khi vị vua này "dâng cúng cho vị chúa tể của đức bà Bhagavati kho lúa Vamdhaun, kho lúa Ktun và kho lúa Narai cùng nhiều phụ nữ": "Những người đàn ông nào mà bảo vệ những của cải thuộc về vị chúa tể của nữ thần thì những người đó sẽ được toại nguyện trên thiên giới, nghĩa là được vui thú cùng vô vàn các thần linh và những hộ thần bảo vệ thế giới. Ngược lại những ai mà lấy đồ đạc đó đi thì sẽ bị đày xuống địa ngục Avici cùng các tổ tiên của họ".

Vậy đã rõ sự thật về tục dâng cúng nô lệ cho thần linh của các vua chúa Champa ngày trước. Chẳng như lời đồn đại trong dân gian rằng nô lệ được dâng cúng thần là trinh nữ, ghi chép trên các bia ký bằng đá cho thấy vua chúa Chăm ngày trước dâng cho vị thần quyền năng những nô lệ gồm trẻ em, đàn ông và đàn bà.

Và cũng chẳng như những lời đồn đại rằng sau khi được tế thần, số phận của các nô lệ rất bi thảm khi bị thiêu sống để làm đẹp lòng nữ thần quyền năng, ghi chép trên bia ký bằng chữ Sanskrit của Vua Sri Satyavarman cho thấy nô lệ được dâng cúng không hề bị giết hại, họ chỉ có "nhiệm vụ" bảo vệ của cải thuộc về vị chúa tể của nữ thần. Và nói không chừng, đây là vinh dự, là cơ may bởi nếu làm tốt nhiệm vụ ấy, họ "sẽ được toại nguyện trên thiên giới, nghĩa là được vui thú cùng vô vàn các thần linh và những hộ thần bảo vệ thế giới". 
 Theo Thành Dũng (An ninh Thế giới)

Những bí mật thú vị về nữ sumo thời xưa

Bị cho là không thanh sạch, nữ giới Nhật Bản bị cấm tham gia môn sumo. Còn ở Trung Quốc, nhiều mỹ nữ ngọc ngà trở thành nữ võ sĩ sumo để mua vui cho vua chúa.

Võ sumo được người dân Nhật Bản tôn vinh là “quốc kỹ” (môn thể thao mang tính biểu tượng quốc gia), do vậy, trước đây, chỉ phận nam nhi mới xứng đáng đứng trên võ đài của môn đấu võ cao quý này. Các vận động viên sumo từ xưa tới này đều nhận được đãi ngộ vô cùng hậu hĩnh.

Hình ảnh võ sĩ sumo là nam giới đã quá quen thuộc với làng thể thao thế giới, nhưng các nữ sumo vẫn rất hiếm hoi. Ngoài quan niệm truyền thống nữ nhi “bất khiết”, người Nhật Bản còn cho rằng, đặc thù của cơ thể nữ giới không phù hợp với môn võ cổ truyền này. Do vậy, việc cách ly phụ nữ khỏi vũ đài thi đấu sumo luôn được xem là nhiệm vụ hàng đầu. Nếu một phụ nữ bước vào vòng tròn trên võ đài – nơi vốn được coi là linh thiêng sẽ bị coi là một sự sỉ nhục vì đã làm ô uế nơi này. Vì thế, chuyện phụ nữ trở thành võ sĩ sumo cực kỳ hiếm hoi.


Một hình ảnh hiếm hoi về nữ sĩ Sumo Nhật Bản.

Fusae Ota, nữ thị trưởng đầu tiên của Nhật Bản vào ngày 28/2 vừa qua tuyên bố bà muốn đứng trên võ đài để trao thưởng cho những người giành chiến thắng trong giải vật sumo tổ chức vào tháng 3, nhưng bà đã bị từ chối thẳng thừng. Mãi tới tháng 10/2002, thành phố Aomori, Nhật Bản mới được đăng cai tổ chức giải vô địch sumo quốc tế đầu tiên dành cho nữ giới.


Giải vô địch sumo quốc tế đầu tiên dành cho nữ giới 
được tổ chức tại Aomori

Nếu như Nhật Bản có cái nhìn hà khắc với phụ nữ trong môn võ cổ truyền này, thì nữ võ sĩ sumo thực chất đã tồn tại trong xã hội phong kiến Trung Quốc rất xa xưa. Thời Tống, các nữ võ sĩ sumo được gọi là các võ sĩ giác lực, về sau đổi tên thành võ sĩ đấu vật.

Và môn võ này được xem là một hình thức giải trí rất được ưa chuộng trong xã hội phong kiến. Không chỉ thịnh hành ở triều Tống, thời Tam Quốc cũng có loại hình đấu võ này. Các đợt tuyển mỹ nữ vào cung thường chọn đến 5.000 người. Để tận dụng mua vui cho hoàng tộc, tầng lớp thống trị bèn nghĩ ra hình thức đấu võ dành cho các cung nữ. Phần thưởng dành cho các nữ đấu sĩ là ngân lượng do vua ban tặng.


Quan quân tụ tập xem cung nữ đấu võ.

Và để tham gia trò chơi này, các cung nữ thời xưa phải lột bỏ xiêm y diêm dúa điệu đà, nên môn võ này còn có tên gọi dân dã khác là “lõa hý”.


Các nữ sumo hiện nay được tham gia sàn đấu 
trong trang phục đặc trưng với phần ngực được che chắn cẩn thận.

Hiện nay, sumo đang được Nhật Bản đề nghị đưa vào hạng mục thi đấu chính thức tại Olympic nên ngày càng nhiều phụ nữ, kể cả các bé gái tại nhiều quốc gia tham gia luyện tập môn thể thao truyền thống này. Để tránh bị chấn thương vùng ngực, trang phục dự thi của các nữ sumo cũng có nhiều điểm khác xa so với các võ sĩ nam. Ngoài ra, các nữ sumo không được dùng đầu để tấn công đối thủ. Trong các vòng thi đấu của nữ đều được phân hạng cân, do vậy, các nữ sumo không nhất thiết phải đạt thể trọng khổng lồ như nam giới.
NGuồn: luubuttuoixanh.com ( Tổng hợp)

Giải mã loài sâu Tử thần khủng khiếp ở Mông Cổ

Những câu chuyện kì bí về loài sâu Tử thần - một loài sâu được người du mục gọi là Allghoi Khorkhoi hay “sâu ruột đầy máu” đã lưu truyền ở Mông Cổ từ hàng nghìn năm nay. Loài sâu này được mô tả có hình dáng tương tự như ống tiêu hóa của một con bò, dài chừng 0,6 tới 1,5 m, thân hình tròn trịa, có màu đỏ tươi và những đốm đen hay mảng đen trên người, trên đầu và ở đuôi có gai.

Truyền thuyết về loài sâu giết người

Sa mạc Gôbi ở châu Á ròng rã màu đá cát đen xám nằm im lìm dưới gió mưa. Đây là một vùng đất rộng và khô với diện tích chừng 1,3 triệu km2 và được xem là một trong những sa mạc lớn nhất thế giới.

Khác với những sa mạc bình thường khác, ở Gobi không chỉ có cát mà còn có cả những dãy núi và các tảng đá khổng lồ.

Nó được tin vốn là một phần của hồ nước hay biển ăn sâu vào nội địa từ 10.000 tới 12.000 năm trước nhưng sau một cơn đại hồng thủy, nước đã bị cuốn trôi hết về phía Nam và phía Tây dẫn tới tình trạng như hiện nay.

Vùng đất khô cằn này được chú ý nhất trong lịch sử như là một phần của Đế quốc Mông Cổ vĩ đại, và là vị trí của một số thành phố quan trọng dọc theo Con đường tơ lụa. Gobi có một lịch sử lâu dài của nơi cư trú của con người, chủ yếu là dân tộc du mục.


Sâu tử thần ở Mông Cổ? 

Đến đầu thế kỷ 20 khu vực dưới sự kiểm soát danh nghĩa của Mãn Châu-Trung Quốc, và nơi sinh sống chủ yếu của người Mông Cổ.

Ngoài những sự bí mật về sự hà khắc của thiên nhiên, sự bền bỉ mà hùng tráng của con người, nơi đây còn lưu truyền một truyền thuyết về một loài sâu thần kì có khả năng giết người.

Những câu chuyện nửa hư nửa thực về loài sâu này, khiến nhiều người rùng mình, nhưng cũng không ít người lên đường kiếm tìm như kiếm tìm sự thật về một truyền thuyết bí ẩn chưa có lời giải đáp.

Dù chưa được tận mắt chứng kiến nhưng họ tin rằng sinh vật này có thể tồn tại và ở đâu đó thuộc những vùng đất khắc nghiệt nằm dọc biên giới Trung Quốc – Mông Cổ.

Truyền thuyết kể lại rằng, loài sâu Tử thần có hình dáng tương tự như ống tiêu hóa của một con bò, dài chừng 0,6 tới 1,5 m, thân hình tròn trịa, có màu đỏ tươi và những đốm đen hay mảng đen trên người, trên đầu và ở đuôi có gai.

Người ta tin rằng, những con sâu Tử thần rất thích màu vàng và những loại thực vật ký sinh ở hoang mạc như cây goyo. Người du mục gọi loài sâu này là Allghoi Khorkhoi hay “sâu ruột đầy máu”, bởi vì nó là một loài sâu khổng lồ có khả năng giết người.

Người Mông Cổ còn truyền nhau câu chuyện về kể về cái chết của một cậu bé trong vùng. Một hôm, cậu bé ở nhà một mình. Trong khi cậu đang chơi ngoài trời với một chiếc hộp màu vàng thì bị một con sâu bí mật chui vào bên trong.

Do không biết, cậu bé đưa tay chạm vào chiếc hộp. Ngay lập tức cậu bé lăn ra chết. Đến khi bố mẹ cậu bé tội nghiệp đi làm về, họ tìm kiếm khắp nơi nhưng không hiểu nguyên nhân nào đã khiến con mình chết. Một người trong gia đình đã phát hiện trên cát còn để lại những dấu vết ngoằn ngoèo vô cùng lớn.

Và cả gia đình cậu bé phát hiện ra sự thật rằng loài sâu tử thần đã đến. Chính nó đã giết cậu bé bằng chất độc bí hiểm của mình.

Theo dấu vết ngoằn ngoèo trên cát để lại, cha mẹ của cậu bé quyết tâm đi tìm con sâu để trả thù. Kể từ lần ra đi đó họ đã không bao giờ quay trở lại nơi họ sinh sống nữa. Người ta đồn rằng, thay vì giết được con sâu, bố mẹ của cậu bé đã bị chính nó giết chết!

Người dân địa phương kể, loài sâu tử thần có một hình dáng vô cùng lạ và đáng sợ. Nó giống như xúc xích, mập như cánh tay người đàn ông, trông giống ruột của một loài gia súc. Đuôi của loài sâu này ngắn nhưng không nhọn.

Người ta không thể xác được được đâu là đầu, đâu là đuôi bởi không thể phân biệt được các phần của con sâu: mắt, mũi, miệng.

Loài sâu tử thần di chuyển rất lạ thường, hoặc cuộn tròn lăn vút đi, hay bò ngoằn ngoèo một bên thân. Nó sống trong các đụn cát hoang vắng và các thung lũng nóng cháy của sa mạc Gobi mà phía dưới là những cây saxaul mọc ngầm.

Điều kì lạ là tất cả những người Mông Cổ, chưa một ai từng được đối diện với loài sinh vật lạ lùng này, nhưng câu chuyện về những con sâu tử thần khổng lồ, về hình dáng của nó đều được từng người một kể lại một cách tỉ mỉ và chi tiết.

Họ tin chắc rằng có một loài sâu như thế tồn tại ở đây và cũng tin nó có hình dáng như họ mô tả.

Cũng theo người dân địa phương, loài sâu này chỉ xuất hiện vào một thời điểm trong năm. Đó chính là lúc mà sa mạc Gô bi nóng nhất, vào tháng sáu và tháng 7.

Sau khoảng thời gian đó, sâu Tử thần sẽ vùi mình trong cát hầu hết các thời gian còn lại trong năm. Và người ta sẽ không thể nhìn thấy nó nữa. Thông thường, sâu Tử thần bò lên mặt đất sau cơn mưa, hoặc những khi đất ẩm và nó ngủ suốt mùa hanh khô trong cát. 

Theo truyền thuyết được những người dân sa mạc Gobi rỉ tai nhau từ hàng ngàn năm qua, loài sâu này có một khả năng kỳ bí như nó có thể phun ra chất độc acid vàng gây chết người ngay lập tức khi tiếp xúc hoặc có thể tiêu diệt con mồi từ xa bằng một luồng điện siêu mạnh.

Những người tin vào sâu Tử thần đều cho rằng việc tiếp xúc với bất kỳ điểm nào trên mình nó đều cực kỳ nguy hiểm. Nọc độc của nó có thể ăn mòn kim loại và có thể giết chết một con lạc đà to khỏe ngay trong chớp mắt.

Một ngày của tháng Sáu và tháng Bảy, những người dân sống trên sa mạc Gô bi thức dậy.

Và họ kinh ngạc khi thấy con lạc đà to khỏe của gia đình nằm đã chết mà không hề có dấu vết của bệnh tật hay bị bắn chết.

Trên cát, những dấu vết ngoằn ngoèo đã nói với họ rằng, sinh vật tử thần đã đến. Cái tên sâu tử thần luôn là nỗi khiếp đảm với tất cả những con người sống ở nơi đây từ hàng nghìn năm qua. Họ luôn lo sợ nó có thể xuất hiện bất cứ lúc nào và dời đi bất cứ lúc nào, để lại một xác chết.

Hành trình đi tìm loài sâu Tử thần

Vùng đất hoang vu và đầy gió cát này được người châu Âu đến thăm dò từ những thế kỷ 17.

Loài sâu Tử thần lần đầu tiên được những người phương Tây chú ý đến trong cuốn sách có nhan đề “Trên đường đi tìm người cổ đại” của một giáo sư người Mỹ tên là Roy Andrews Chapman xuất bản năm 1926.

Giới khoa học bắt đầu chú ý tới những thông tin nửa thực nửa hư này. Tuy nhiên, nhưng những bí mật về loài sâu tử thần này vẫn là một dấu hỏi lớn đối với nhiều nhà khoa học.

Tháng 8 năm 2009, hai người New Zealand mang theo máy ảnh tới khu vực xa nhất của sa mạc Gobi ở Mông cổ để tìm bằng chứng về sự tồn tại của một loại quái vật mà chưa từng ai bắt được hay chụp ảnh được nó ngoài những câu chuyện truyền miệng và những hình vẽ rợn người hay những thước phim giả tưởng.

Hai nhà khoa học đã lắp đặt các thiết bị theo dõi đặc biệt cho phép ghi lại sự thay đổi nhỏ nhất của cát khi có một con vật to lớn chuyển động trên cát để tìm ra dấu vết của loài sâu Tử thần trong truyền thuyết.

Tuy nhiên, loài sâu tử thần có hình dáng giống như lời miêu tả của người dân địa phương hàng nghìn năm qua không hề xuất hiện. Câu chuyện về loài sâu này vẫn tiếp tục được lưu truyền.

Dưới thời Xô Viết, các nhà khoa học Liên Xô cũng đã từng tổ chức các cuộc tìm kiếm ở sa mạc Gobi và đem về nhiều câu chuyện thần bí.


Sâu tử thần 

Vào tháng 5/2005, các nhà khoa học và thám hiểm thuộc Trung tâm sở thú Fortean, Thế giới kỳ bí và E-Mongol đã bỏ ra một tháng để nghiên cứu các bản báo cáo và tiếp tục truy lùng sâu Tử thần.

Ông Richard Freeman, trưởng nhóm nghiên cứu trên cho rằng, có thể sinh vật lạ này không phải là sâu bởi những con sâu sống được rất cần tới độ ẩm. Nó có thể là một loài bò sát không chân, sống ở dưới mặt đất.

“Nó có thể là thành viên khổng lồ của một nhóm bò sát có tên là thằn lằn giun hay rắn hai đầu”.

Trong thực tế đã có một nhóm động vật này nhưng chúng vẫn chưa được biết tới nhiều do ít được quan tâm nghiên cứu.

Ông Freeman cũng cho rằng mọi người đã quá thổi phòng về năng lực giết người của sâu Tử thần. Ông cho rằng nó giống như con rồng lửa, kỳ nhông của thời Trung cổ, nhưng cực độc.

Sự tồn tại của sâu Tử thần vẫn là một đề tài tranh cãi nóng bỏng mà đến ngày nay các nhà khoa học vẫn chưa thể tìm được câu trả lời.

Tuy nhiên, xét về mặt khoa học, các nhà nghiên cứu cho rằng sâu Tử thần Mông Cổ có thể là một sinh vật mang hai đặc tính của lươn phóng điện và rắn hổ mang phun nọc độc mà không cần cắn tồn tại trên thực tế.

Rất có thể, một loài côn trùng đặc biệt như vậy đã xuất hiện trên sa mạc khắc nghiệt này, và trở thành một nỗi lo sợ suốt hàng nghìn năm qua đối với những con người nơi đây.

Bí mật về loài sâu tử thần có thể sẽ được khám phá trong nay mai, nhưng nỗi sợ hãi của người dân trên sa mạc Gô bi về một thứ ám ảnh vô hình đến từ cuộc sống khắc nghiệt thì vẫn còn, như truyền thuyết về loài sâu Tử thần Allghoi Khorkhoi này.
VTC

"Cặp đôi bóng ma" xuất hiện trong bức ảnh tại Mỹ

Người phụ nữ có tên Marcella Davis cho biết cả cô và con gái đều nhìn thấy hai bóng ma bí ẩn xuất hiện trong bức ảnh chụp ngày 15/4 vừa qua

Ngày 17/4 vừa qua, một người phụ nữ đến từ bang Texas, Mỹ đã hết sức hoang mang khi nhận thấy hai "nhân vật" lạ có mặt trong bức hình chụp cậu cháu trai.

Cậu thanh niên (đội mũ) quay mặt đi trong lúc cô Davis đang bấm máy.

Người phụ nữ có tên Marcella Davis này cho biết, vào ngày 15/4, cô đã chụp cho cậu cháu trai bức ảnh kỉ niệm tại trường Trung học Cleveland, Texas. Nhưng trong lúc đang chụp, anh chàng lại quay mặt đi. Vì vậy, cô Davis chỉ chụp được ngoại cảnh phía sau anh ta. Sau đó, cô Davis cũng không chụp thêm bất cứ tấm nào nữa.

Trước đó vài ngày, con gái của cô Davis đã hướng dẫn cô cách sử dụng tính năng zoom xa, gần của camera điện thoại vì vậy cô đã có thể chụp được bức ảnh rõ nét cho cho cậu cháu vào ngày hôm đó. Và cô bé này cũng là người đầu tiên phát hiện ra hai bóng ma hiện diện trên bức ảnh. Sau đó, cô bé chỉ cho mẹ thấy điểm mờ ảo trên bức ảnh. "Các bạn có thể nhìn xuyên thấu qua bóng ma.", cô Davis nói.

Trong khoảng trống là "cặp đôi bóng ma": một nam và một nữ.

Cô Davis cho rằng đây không phải là một hiện tượng bình thường mà rõ ràng là có hai bóng ma xuất hiện trong bức ảnh. Cô còn miêu tả rõ ngoại hình của "cặp đôi bóng ma" này. Người đàn ông mặc một bộ vest màu trắng, quần ống vẩy. Đứng phía sau bóng ma nam là một bóng ma nữ.

Trả lời phỏng vấn với giới truyền thông, cô Davis cũng đảm bảo rằng mình không chỉnh sửa bức ảnh để tạo scandal.

Cho dù "cặp đôi bóng ma" có thật hay không thì với những người không tin vào ma quỷ thánh thần, họ vẫn cho rằng đây chỉ là một trò đùa mà thôi. Nhưng với cô Davis, sinh tử là chuyện thường tình, và phải đến khi nào con người ta chết đi, họ mới thực sự cảm nhận được thế giới tâm linh là gì.

Lý giải thú vị về tài tìm mộ của nhà ngoại cảm

Ông Nguyễn Vũ Tuấn Anh (giám đốc Trung tâm Nghiên cứu lý học Đông phương) đã đưa ra những lý giải thú vị về khả năng đặc biệt của nhà ngoại cảm.

- Là một người từng chứng kiến và tham gia một số cuộc tìm kiếm mộ liệt sĩ dưới sự tư vấn của các nhà ngoại cảm, ông đánh giá thế nào về khả năng của họ trong lĩnh vực này?
Qua các trường hợp mà tôi chứng kiến, tôi chỉ có thể nói, khả năng của các nhà ngoại cảm thật tuyệt vời.

- Ông có thể lý giải những khả năng đặc biệt của các nhà ngoại cảm bằng lý thuyết của lý học Đông phương được không?
Khả năng của các nhà ngoại cảm là một hiện tượng khách quan, được kiểm chứng trên thực tế. Hiện tượng này không chỉ ở Việt Nam mà còn ở khắp nơi trên thế giới. Như hiện tượng nhà tiên tri Vanga là một ví dụ. Để lý giải hiện tượng này, tôi chủ quan cho rằng, chúng ta cần phân biệt phương tiện nhận biết và tính nhận biết. Tôi lấy ví dụ, con người là tính nhận biết và cái tivi là phương tiện nhận biết. Không có con người, hoặc sinh vật có khả năng nhận biết thì chiếc tivi đó mặc dù truyền tải thông tin nhưng sẽ không đem lại sự nhận biết.

Ảnh minh họa. 
Tương tự như vậy, các giác quan là phương tiện nhận biết và não là tính nhận biết của các giác quan. So sánh sâu hơn thì não cũng là phương tiện nhận biết và trong cấu trúc vật chất của nó phải có tính nhận biết. Như vậy, tôi đặt một giải thuyết cho rằng, trong cấu trúc não của các nhà ngoại cảm phải có sự phát triển một dạng cấu trúc đặc biệt nào đó khác bình thường, có khả năng như một phương tiện nhận biết mà người khác không có.

- Phương pháp sử dụng con lắc để xác định mộ liệt sĩ của ông (từng áp dụng trong hành trình tìm mộ liệt sĩ Vũ Văn Sơn) dựa trên cơ sở khoa học nào?

Xuất phát từ luận điểm này, tôi cho rằng để giải thích việc sử dụng con lắc – một phương tiện cổ xưa – từ hiểu biết của tri thức khoa học hiện đại thì rất khó khăn. Do nền tảng tri thức của nền văn minh cổ xưa tạo ra phương pháp sử dụng con lắc và nền tảng tri thức của nền văn minh hiện nay – mà chúng ta gọi là tri thức khoa học hiện đại – có nhiều khác biệt. Nó cũng tương tự như lấy tri thức khoa học hiện đại giải thích những bí ẩn của Kim Tự Tháp vậy. 
Tôi nghĩ rằng để giải thích vấn đề này cần có sự hội nhập giữa hai nền văn minh xưa và tri thức khoa học hiện đại. Do đó, để giải thích hiện tượng ứng dụng con lắc từ tri thức khoa học hiện đại sẽ rất phức tạp, nằm ngoài khuôn khổ của một bài báo. Tôi hy vọng sẽ được trình bày đầy đủ trong một dịp khác. Nhưng ý niệm ban đầu của tôi để giải thích hiện tượng sử dụng con lắc là liên quan đến trường điện từ.
- Trong hành trình tìm mộ liệt sĩ Vũ Văn Sơn, theo lời ông kể lại thì sự xác định vị trí mộ phần của ông bằng con lắc cũng không chính xác. Vậy có thể đặt bao nhiêu phần trăm niềm tin vào phương pháp này?
Trong việc tìm mộ liệt sĩ Vũ Văn Sơn thì con lắc chỉ đúng khu vực mà hai vị liệt sĩ đã hy sinh và vị trí liệt sĩ Sơn bị thương nặng trên ruộng lạc. Tuy nhiên, con lắc chỉ sai vị trí mộ ban đầu của liệt sĩ Sơn khoảng 9 mét (mộ này sau đó cải táng vào nghĩa trang liệt sĩ). Theo hiểu biết của tôi thì sự chính xác của một phương pháp ứng dụng bao giờ cũng có sai số. Trên thực tế tôi chỉ sử dụng con lắc để kiểm chứng lại việc đi tìm huyệt đặt mộ cho người đã khuất theo phương pháp phong thủy. Chỉ có một lần tôi sử dụng con lắc tìm mộ, nhằm xác định cụ thể hơn vị trí của các liệt sĩ đã nằm, khi các nhà ngoại cảm đã xác định được khu vực hy sinh của các liệt sĩ ấy.
- Ông có tin vào sự tồn tại của “linh hồn” không? Việc các nhà ngoại cảm hoặc một ai đó tiếp xúc được với các “linh hồn” rồi nói chính xác một số thông tin trong quá khứ có lý giải được bằng các cơ sở lý thuyết của lý học Đông phương không?
Để giải thích những hiện tượng trên từ nền tảng tri thức của lý học Đông phương, phù hợp với tri thức khoa học hiện đại, tôi cần xác định ngay rằng, hệ thống tri thức của lý học Đông phương hoàn toàn phù hợp với những giá trị của nền tảng tri thức khoa học hiện đại, thể hiện qua tiêu chí khoa học cho một hệ thống lý thuyết được coi là khoa học. Từ quan niệm này, chúng ta cần đặt lại vấn đề khái niệm “linh hồn”.
Trong lý học Đông phương và trong rất nhiều văn bản cổ xưa có nhắc đến linh hồn. Cụ thể trong Kinh Dịch, Hệ Từ có viết: “Hồn thoát ra ngoài, hoàn tất sự biến hóa”. Vậy “hồn” hay “linh hồn” có phải là một dạng tồn tại của vật chất không? Nếu linh hồn là một sự tồn tại thần bí, phi vật chất thì không thể có năng lượng và tương tác với các nhà ngoại cảm. Còn một khi nó có những hiệu ứng tương tác thì chứng tỏ nó chính là một dạng tồn tại của vật chất. Phần còn lại là người ta giải thích nó như thế nào? Hoặc là với khái niệm “linh hồn” là những hồn ma tồn tại như quan niệm phổ biến hiện nay. Hoặc chỉ coi “linh hồn” là một tồn tại của vật chất tế vì còn sót lại của người đã khuất, mà tri thức khoa học hiện đại chưa giải thích được. Khoa học hiện đại đang đi tìm hạt của Chúa. Rõ ràng họ cũng đang đặt vấn đề về một dạng tồn tại của vật chất mà tri thức khoa học hiện đại chưa giải thích được.
- Xin cảm ơn ông!
Thần giao cách cảm - những bí ẩn chưa lời giải đáp
Giới khoa học đã không ngừng nỗ lực tìm kiếm chứng cứ về cái gọi là thần giao cách cảm. Và vì vẫn chưa chứng minh được những bí ẩn của nó nên nhiều người vẫn cho rằng nó có thật.

Bạn đang làm việc nhà và đột nhiên nghe thấy một tiếng nói bên trong giục bạn gọi điện thoại cho bạn bè của mình. Vào khoảnh khắc bạn nghe thấy lời nói bên trong của người đó ở đầu kia của kênh giao tiếp, người đang “nói” với bạn cũng đang nghĩ đến chuyện gọi điện thoại cho bạn. Đó chính là một giản thể của thần giao cách cảm (Telepathy), theo dẫn giải của Pravda.

Theo từ điển Bách khoa thư Britannica, “thần giao cách cảm là khả năng truyền ý nghĩ không dùng những kênh giác quan thông thường”, là một trong ba khả năng chính của năng lực cảm thụ bên ngoài các giác quan hay còn gọi là ngoại cảm (ESP). Từ “Telepathy” bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp, có nghĩa đen là “trực cảm từ xa”, được sử dụng là thuật ngữ khoa học chính thức từ năm 1882.


Những nghiên cứu khoa học có hệ thống về hiện tượng ngoại cảm, trong đó có thần giao cách cảm, ở phương Tây bắt đầu từ năm 1882, khi nhà nghiên cứu tâm linh người Pháp, Fredric W.H. Meyers sáng lập Hiệp hội Nghiên cứu Tâm linh (SPR) ở London, Anh, đánh dấu mốc khoa học nghiêm túc cho ngành ngoại cảm. Việc nghiên cứu tiềm lực của ngoại cảm vẫn tiếp tục tại các siêu cường và cả ở Israel. Sau này, ngoại cảm trở thành một công cụ tình báo quan trọng của nhiều cơ quan, mật vụ trên thế giới.

Thần giao cách cảm ở con người

Từ những câu chuyện có thật, từ sự trùng hợp đến kỳ lạ, khó lý giải, các nhà khoa học trên thế giới sớm khẳng định sự tồn tại của chức năng thần giao cách cảm ở con người. Khi tiến hành những thí nghiệm nghiêm túc, các nhà khoa học cho rằng, giữa những người thân thích như mẹ-con, bạn thân, “sợi dây” thần giao cách cảm vô hình được thiết lập từ lúc nào. Như cặp chị em 32 tuổi nhà Eller (năm 1962) cùng được đưa vào bệnh viện tâm thần tại Bắc Carolina, Mỹ với chẩn đoán tâm thần phân liệt. Bất chấp sự phản đối dữ dội của hai người, bệnh viện bố trí họ ở hai trại khác nhau. Điều đáng tiếc đã xảy ra: cả hai cùng chết một lúc ngay đêm đầu tiên bị tách nhau. Tư thế của hai người co quắp như bào thai trong bụng mẹ, còn nguyên nhân tử vong vẫn là điều bí ẩn.

Hay, câu chuyện về một cậu bé 10 tuổi khám phá là mình có thể “nói chuyện bằng mắt” với người bạn thân nhất gần nhà. Sau khi cha mẹ cậu bé chuyển nhà đến chỗ khác, cậu thức giấc vào một buổi sớm vì đầu đau kinh khủng. Cùng thời điểm đó, một chiếc xe tải đã cán chết người bạn thân của cậu.

Tháng 8-2000, Bệnh viện Sklifosovski sau một vụ nổ bom khủng bố tại quảng trường Puskin, Matxcơva (Nga) đã đón một nữ nạn nhân bị vô số vết bỏng trên người. Khi người chị sinh đôi đến thăm em, các nhân viên vô cùng sửng sốt nhận thấy trên cơ thể khỏe mạnh của cô cũng có những vết bỏng. Mặc dù không hề nghĩ đến hiện tượng này, người chị đã nhận một phần đau đớn từ em và các nhà khoa học cho rằng đây là một ví dụ về hiện tượng thần giao cách cảm.

Trước nhiều bằng chứng đáng chú ý của ngoại cảm, người ta bắt đầu mở hẳn một ngành nghiên cứu lĩnh vực này. Nga, Mỹ, Anh là những nước đi tiên phong trong việc tiến hành thí nghiệm khoa học để chứng minh những hiện tượng bí ẩn của con người. Đặc biệt Mỹ đã thực hiện một thí nghiệm thú vị về thần giao cách cảm trong chương trình của tàu Apollo 14 năm 1971. Trong thí nghiệm này, người ta đã chứng minh rằng khoảng cách không là một rào cản đối với năng lực thần giao cách cảm. Tuy nhiên, thí nghiệm không do NASA trực tiếp chủ trì. Thậm chí thông tin về thí nghiệm cũng không được công bố mãi sau khi nhiệm vụ của tàu kết thúc.


Ngày nay, hầu hết các quốc gia Âu Mỹ đều công nhận ngoại cảm nói chung và thần giao cách cảm nói riêng, qua nhiều chứng cứ thuần khoa học. Chuyên gia Radin kể lại câu chuyện của nhà khoa học Đức Hans Berger, người đầu tiên ghi lại điện não đồ (EEG) ở người đã ngã xuống từ lưng ngựa và chỉ một chút nữa là nát thây dưới vó của một nhóm ngựa đua. Chị của ông, ở cách đó nhiều cây số, đã linh tính có chuyện chẳng lành và thuyết phục cha mình gửi ngay điện tín thăm hỏi tình hình. Cô này chưa bao giờ chịu gửi điện tín trước đó. Sự trùng hợp trên đã khiến ông Berger vô cùng tò mò, chuyển từ nghiên cứu toán học và thiên văn học sang ngành y với hy vọng có thể phát hiện được nguồn gốc của năng lượng tâm linh đó.

Với sự trỗi dậy của ngành sinh học lượng tử, chuyên gia Radin có thể bắt đầu lại nỗ lực giải mã về sự tương quan xuất hiện giữa những người không ở gần nhau. Ông cho rằng thần giao cách cảm có vẻ như là một sự ùn tắc về lượng tử: khi các đối tượng có liên quan đang ở khoảng cách mà không có sự tương tác về năng lượng giữa hai điểm. “Chúng tôi vẫn chưa có lời giải thích, nhưng ít nhất nó không còn là điều bất khả thi nữa”, Radin kết luận. Một minh chứng sống động là cuộc thực nghiệm về quan hệ giữa Beischel và Boccuzzi: Beischel ngồi trong phòng, không thể thấy Boccuzzi. Boccuzzi được hướng dẫn nhìn chăm chú vào đối tượng phản ánh trên màn hình lúc thấy lúc không. Dữ liệu cho thấy Beischel có những phản ứng sinh lý khi Boccuzzi thấy được cô và dao động khi anh không thấy, giống như cơ thể của cô thốt lên rằng: “Ồ, anh ấy đi đâu thế nhỉ?”. Đối tượng càng gần gũi thì ảnh hưởng mạnh hơn giữa những người lạ mặt. Nghiên cứu về tình yêu của chuyên gia Radin, công bố năm 2008, cho thấy việc một người hướng sự chú ý đến người yêu có thể kích hoạt hệ thần kinh của đối tượng.

Các nhà khoa học trên thế giới đã quan sát và phát hiện, hiện tượng thần giao cách cảm xuất hiện không chỉ ở người mà còn trong thế giới động vật.

Thần giao cách cảm ở động vật

Thần giao cách cảm được hiểu là khả năng truyền ý nghĩ không bằng những giác quan thông thường. Các nhà khoa học sớm phát hiện, thần giao cách cảm xuất hiện dưới nhiều dạng khác nhau trong thế giới động vật. Ví dụ, một chú sói mải mê theo mồi, bị lạc bầy, mẹ của chú ngẩng cao đầu, dõi mắt nhìn chăm chú theo hướng của đứa con tinh nghịch, lập tức bầy sói con dừng lại và xoay người về với mẹ dù cách xa hàng trăm dặm.

Hay như với những loài sâu bọ đang sống quây quần thành đàn, thần giao cách cảm giúp chúng thông báo cho nhau mối nguy hiểm. Hoặc theo quan sát của nhiều nhà sinh học, loài kiến có một hệ thống giao tiếp với nhau khác hẳn các kiểu truyền tin thông thường. Các nhà khoa học Nga đã tiến hành thí nghiệm, đưa một đàn thỏ con mới sinh xuống một chiếc tàu ngầm, tách khỏi mẹ chúng đang ở trên bờ cách đó hàng nghìn km. Đoàn thủy thủ được lệnh giết chết từng con thỏ một. Và cứ sau mỗi nhát dao, trên điện tâm đồ, người ta lại thấy tim của thỏ mẹ đập nhanh hơn. Trong thí nghiệm này, các nhà khoa học Nga không giải thích được tại sao lại có “sợi dây” vô hình giữa thỏ mẹ và thỏ con khi ở cách xa nhau như thế, và họ cho rằng đây là hiện tượng thần giao cách cảm.

Bên cạnh đó, động vật cũng có khả năng linh cảm, dự báo trước thảm họa. Như buổi sáng mùa hè năm 1963, nhân viên bảo vệ Thảo cầm viên thành phố Skopjie thuộc tỉnh Macedonia của Nam Tư (nay là Thủ đô của Skopjie của nước cộng hòa Macedonia) cảm nhận những điều khác thường. Không hiểu sao mới sáng sớm, đám thú rừng nuôi trong lồng nhốn nháo cả lên, chúng không thiết ăn uống, rồi gào lên những tiếng thảm thiết, nhảy lung tung định phá hàng rào tẩu thoát. Đến chiều thì cả những chú mèo vốn hiền lành bỗng leo lên tận mái nhà, xù lông, cong đuôi, rít lên từng hồi. Vài con bò chạy ngơ ngác trên đường phố, va chạm lung tung vào cửa hàng, xe cộ… Còn chim chóc xáo xác xuất hiện từng đàn bay về hướng Nam.

Những điều bất thường đó như muốn báo động, có một hiện tượng nào đó rất nghiêm trọng sắp xảy đến. Và lúc 5h sáng ngày 26-7-1963, trong lúc mọi người chưa thức giấc, thì mặt đất chuyển mình nhô lên rồi hạ xuống như sóng biển, những khe đất mở ra như miệng con quái vật. Chỉ sau 17 phút, cả thành phố chỉ còn là một đống đổ nát chôn vùi 1.500 người bất hạnh.

Website: www.luubuttuoixanh.com (Tổng hợp từ nhiều nguồn)

Bí ẩn những thành phố cổ xưa mất tích ?

Từ trước đến nay, các truyền thuyết, câu chuyện về các thành phố cổ xưa luôn mang lại cho chúng ta một sức hấp dẫn mạnh mẽ. Rất nhiều người đã tham gia các cuộc phiêu lưu, khảo cổ để đi tìm kiếm những thành phố cổ mất tích … Có đến hàng chục các thành phố đã bị mất tích trên thế giới, có thể chúng đã bị chon vùi bởi thiên tai hay chiến tranh, có những thành phố được biết rõ còn có những nới chỉ là sự suy đoán. Hãy cùng tìm hiểu về những thành phố mất tích nổi tiếng nhất. 

5. Pompeii : Thành phố bị chôn vùi 

Đây là một thành phố cổ La Mã đã bị chôn vùi hoàn toàn bởi núi lửa. Vụ phun trào của núi lửa Vesuvius năm 79 sau công nguyên đã chôn vùi nơi đây, cả thành phố đã ngập trong tro bụi. Rất nhiều người dân đã kịp sơ tán ra khỏi đây nhưng cũng có khoảng 2000 người đã mãi mãi kẹt lại. Pompeii đã bị chôn vùi dưới một lớp tro và đá bọt dày tới 9 mét. 


Điều thú vị là trc khi bị hủy hoại, Pompeii là một thành phố đang phát triển cực thịnh bên bờ Địa Trung Hải. Thành phố đã mãi mãi bị chộn vùi dưới lớp tro đến tận năm 1748 mới được các nhà khảo cổ phát hiện và khai quật. Dưới lớp tro tàn, nhà cửa, đường xá, vỉa hè đều còn nguyên. Thậm chí các nhà khoa học còn có thể đúc hình mẫu của nhũng người mắc kẹt dưới đống đổ nát. 

Hiện nay Pompeii đã trở thành một điểm du lịch nổi tiếng, thu hút nhiều khách tham quan. Vấn đề bảo tồn đang là một vấn đề lớn mà nhà nước và giới khoa học phải đương đầu vì các tàn tích ở đây nhanh chóng bị xuống cấp theo thời gian. Nơi đây đã được UNESCO tuyên bố là một Địa điểm Di sản Thế giới năm 1997. 

4. El Dorado : Thành phố trong tưởng tượng 

Đầu tiên phải nói rằng rất tiếc khi thành phố này chỉ là một sự tưởng tượng. Thành phố này là một địa điểm huyền thoại của những kẻ săn tìm kho báu. Nhiều người đã mất cả cuộc đời để tìm kiếm thành phố này.


El Dorado theo mọi nười là một thành phố vàng trong khu rừng già Amazon của người Inca. Trong tiếng Tây Ban Nha “El Dorado” có ngĩa là “dát vàng”. Câu chuyện về một thành phố hoàn toàn bằng vàng bạc châu báu và được ẩn dấu bằng một cánh cửa bí mật đã được lưu truyền khắp thế giới. Hàng ngàn nhà thám hiểm đã cố gắng trong vô vọng để xác định thành phố này, nhiều người đã chết vì bệnh tật và đói khát trong chuyến thám hiểm. 

Trường hợp nổi tiếng nhất là của đại tá người Anh Harrison Fawcett, ông gọi El Dorado là thành phố Z và đi tìm nó. Nhưng không ai thấy ông sau khi bước vào khu rừng nữa dù đã có nhiều nỗ lực tìm kiếm. Gần đây, các nhà khoa học đã tìm thấy một vài vết tích về sự tồn tại của một thành phố cổ trong rừng Amazon, nhưng nó không hề liên quan gì đến châu báu hay vàng. 

3. Troy : Thành trì huyền thoại 

Troy đã quá nổi tiếng qua cuốn truyện thần thoại Hy Lạp và các cuốn sử thi của Home. Nhiều người vẫn còn chưa xác định được đây là sản phẩm của trí tưởng tượng hay không. Phải khẳng định luôn rằng thành Troy hoàn toàn có thật. Theo các nhà sử học thì Troy nằm ở vùng Thổ Nhĩ Kỳ, giữa châu Âu và châu Á. Chính bởi vị trí địa lý rất có lợi này nên thành phố này đã từng là một nơi thông thương sầm uất và có sự giao thoa giữa nhiều nền văn hóa.


Trong tác phẩm của Home, Helena – người vợ tuyệt đẹp của vua Menelaus thành Sparta đã bị hoàng tử thành Troy là Paris quyến rũ và bỏ trốn. Cuộc chiến thành Troy đã nảy sinh vì lý do này, Menelaus đã huy động hàng ngàn con tàu, các đội quân và các chiến hữu cùng vây hãm thành Troy quyết rửa nỗi nhục. Sau đó nhờ mưu sách con ngựa gỗ mà thành Troy đã bị hạ gục. Câu chuyện này chỉ là một truyền thuyết và không có nhà sử học nào tin tưởng vào sự tồn tại của thành phố này chỉ dựa trên một câu chuyện thần thoại. Nhưng sau đó các nhà khảo cổ đã phát hiện ra nó vào năm 1822, có vẻ như nó đã được tái sinh sau cuộc chiến vào khoảng năm 85 trước công nguyên. Nhiều phần của các bức tường và di tích vẫn còn được tìm thấy và điều này càng khẳng định thêm về sự thật liên quan đến huyền thoại thành Troy. Tuy nhiên lý do có lẽ không như trong câu chuyện của Home. 

2. Carthage : Thành phố bị hủy hoại vì chiến tranh
Thành phố Carthage là một thành phố có điểm tương đồng với Troy khi có vị trí ở khu vực Địa Trung Hải thuộc Tuynidi ngày nay. Carthage được thành lập bởi người Phoenicia và khoảng năm 800 trước công nguyên, nơi này trước kia đã phát triển huy hoàn, trở thành nền văn rực rỡ ảnh hưởng đến cả những khu vực lân cận. Tuy nhiên thật đáng buồn khi vị trí địa lý tốt cũng chính là nguyên nhân cho sự diệt vong của đế chế này. Thành phố đã phải trải qua khoảng 150 năm chiến tranh, chủ yếu là xung đột với La Mã. Cuối cùng, thành phố đã bị san bằng vào năm 146 trước công nguyên. 

Sau chiến tranh, người La Mã đã tái thiết lập thành phố và Carthage quay lại thời thịnh vượng một thời gian. Nhưng sau đó, thành phố lại tiếp tục phải trải qua chiến tranh và bị tiêu hủy. Sau đó, nơi đây không bao giờ có thể phục hồi như cũ được nữa. Ngày nay, Carthage là một vùng ngoại ô của Tuynidi. 

1. Atlantis : xử sở không tồn tại


Có rất nhiều giả thuyết về Atlantis được đưa ra từ thởi cổ đại đến bây giờ. Theo nhà triết gia Hy Lạp Plato, Atlantis đã từng là một xã hội nhộn nhịp, phát triển thịnh vượng … Tuy nhiên những ý kiến này được cho rằng chỉ là hư cấu vì không có bằng chứng thiết thực nào chứng minh sự tồn tại này. Có rất nhiều sự suy đoán về nơi thành phố tồn tại. Plato cho rằng nó nằm trên lục địa Atlantis và đã biến mất từ rất lâu. Một số nhà khảo cổ thì lại cho rằng Atlantis nằm trong quần đảo Hy Lạp và bị hủy hoại sau một vụ phun trào của núi lửa. Những giả thuyết khác lại cho rằng nó nằm ở vùng biển Caribe, Nam Mỹ hoặc Nam Cực. 

Không có bất cứ bằng chứng nào về sự tồn tại của thành phố này những vẫn có rất nhiều người say mê và tin tưởng trước ý tưởng về nơi đây. Nhiều bộ phim, cuốn sách đã đề cập đến sự tồn lại và lý do mất tích của nó. Gần đây, tháng 2 năm 2009, một kỹ sư đã tuyên bố với cả thế giới rằng ông tìm thấy Atlantis bằng cách sử dụng công cụ Google Ocean. Đến nay, vấn đề này vẫn đang được suy xét và tìm hiểu. Hi vọng sẽ sớm tìm ra lời giải đáp 

Khám phá những di tích cổ đại trên thế giới

Những di tích còn sót lại cho tới ngày nay đều mang trong mình một giá trị lịch sử vĩ đại và là chìa khóa để hé mở ra những bí ẩn cố xưa của nhân loại.

CAESAREA MARITIMA

Caesarea Maritima là một công viên quốc gia nằm trong một thành phố gần bờ biển Địa Trung Hải ôû Israel. Tại đây các nhà khảo cổ đã phát hiện ra một công trình ngoạn mục, đó chính là một bến cảng với một hệ thống dẫn nước khổng lồ. Theo những gì được ghi chép trong Kinh Thánh thì vua Herod là người đã cho xây dựng thành phố bí ẩn này và một hải cảng bên bờ biển Địa Trung Hải, hiện nay là lãnh thổ của Israel. Hàng loạt các cuộc khai quật vào những năm 1980, được dẫn dắt bởi nhà khảo cổ học Robert Hohlfelder đã mang đến cho chúng ta những thông tin đáng giá: bến cảng vĩ đại này đã từng là một trong những bến cảng lớn nhất và phức tạp nhất ở thế giới cổ đại. Theo nhà khảo cổ học Beverly Goodman, công trình ngoạn mục này đã bị hủy hoại bởi một cơn sóng thần xảy ra vào thế kỷ thứ nhất hoặc thứ hai.

COLOSSI OF MEMNON

Colossi of Memnon là hai bức tượng đá khổng lồ của Pharaoh Amenhotep III, nó được đặt ở nghĩa địa Theban gần sông Nile từ năm 1350 trước Công nguyên, tức là đã trải qua khoảng 3400 năm. Đó chỉ là một trong những phát hiện của một nhà khảo cổ đã nghiên cứu những bức tượng này từ năm 1970. Nhà khảo cổ Robert Fleming Heizer đã sử dụng phương pháp phân tích kích hoạt neutron và phát hiện ra rằng hai bức tượng này được tạc từ đá khai thác ở một mỏ đá nằm gần Cairo. Mặc dù mỗi bức tượng có trọng lượng gần một ngàn tấn nhưng đã được những người cổ đại vận chuyển đến nghĩa địa Theban bằng bè trên những con kênh đào qua sa mạc.

PERSEPOLIS

Hình ảnh sứ giả các nước mang cống vật dâng tặng được tạc lên một cầu thang đã được các nhà khảo cổ phát hiện ở Persepolis, thủ đô của Đế chế Achaemenian lớn mạnh một thời dưới sự cai trị của Đại đế Xerxes (486-465 TCN). Nhà khảo cổ Matthew Stolper của Đại học Chicago và cộng sự của mình đã phát hiện ra rất nhiều tài liệu quan trọng liên quan đến việc cai trị của Đế chế này. Đây là một trong những di tích mang tính chất lịch sử to lớn bởi Persepolis chính là nơi đóng đô của Đế quốc đầu tiên trong lịch sử Iran.

PETRA

Petra là một khu vực nằm ẩn trong một hẻm núi sâu ở Jordan, nó được mô tả như là "một thành phố hoa hồng đỏ có tuổi đời bằng một nửa thời gian đã qua". Tuy nhiên, nó vẫn còn khá mới so với các công trình có niên đại từ thời đồ sắt ở vùng lân cận. Ở Petra có rất nhiều bức tượng được tạc trên vách đá, trong khi đó công trình nổi tiếng nhất là The Treasury có niên đại khoảng 1.200 năm. Mặt tiền của công trình này được chia làm hai phần được trang trí với các cột mái cổ điển và các tác phẩm điêu khắc. Tọa lạc trên đỉnh là một con đại bàng và một Nabataean (biểu tượng của một vị thần Hy Lạp). Khu vực này đã được UNESCO công nhận là di sản thế giới vào năm 1985 và được mô tả như là một trong những tài sản văn hóa quý giá nhất của nhân loại.

HERCULANEUM

Pompeii và Herculaneum là hai thành phố cổ của nước Ý không bị hủy hoại bởi những trận bão cát mà thay vào đó, nó lại bị chôn vùi bên dưới hàng tấn đất đá và tro bụi thổi tới từ đỉnh núi Vesuvius gần đó, thảm họa này xảy ra vào những năm 79 sau Công nguyên. Vào năm 1980, tiến sĩ Sara Bisel đã phát hiện ra nhiều thi thể khi cô khai quật di tích Herculaneum. Những thi thể này vẫn còn giữ nguyên hình dạng hoảng hốt khi xảy ra thảm họa, tro bụi đã bao bọc toàn bộ thi thể nên quần áo và đồ trang sức vẫn còn nguyên vẹn, xung quanh khu vực đó là những thi thể hoặc hài cốt của người thân họ.

LA VENTA

La Venta là một khu khảo cổ nằm ở bang Tabasco, Mexico. Tại đây, nhà khảo cổ Matthew Stirling đã khai quật được 11 đầu đá khổng lồ từ những khu rừng ẩm ướt ở miền Nam Mexico, đây là dấu hiệu đầu tiên cho thấy sự tồn tại một nền văn minh trước đây chưa được biết đến, còn được gọi là nền văn minh Olmec đã bị chôn vùi dưới đất. Từ năm 1938 cho đến năm 1942, ông cũng đã khai quật được một ngôi mộ với hàng cột làm từ đá bazan, một quan tài được khắc hình đầu một con báo đốm, và các hiện vật làm bằng ngọc bích ngay tại khu vực này.

EL BRUJO

Vào năm 2006, trong khi đang khai quật một kim tự tháp được làm bằng gạch bùn ở El Brujo, một khu di tích cổ của nền văn hóa Moche ở miền bắc Peru, nhà khảo cổ John Verano đã vô cùng ngạc nhiên khi tìm thấy xác ướp một người phụ nữ trẻ có hình xăm, xác ướp có niên đại cách đây khoảng 1.500 năm. Xác ướp được để trong một ngôi mộ tráng lệ với rất nhiều cổ vật quý giá, nhà khảo cổ John Verano đã so sánh việc phát hiện ra ngôi mộ này cũng mang một ý nghĩa tương tự như khi phát hiện ra lăng mộ của vua Tutakhamun ở Ai Cập.

APHRODISIAS

Ban đầu thành phố Aphrodisias ở Thổ Nhĩ Kỳ chỉ là một đống đổ nát với cỏ dại mọc ở khắp nơi. Tuy nhiên, trong hơn hai thập kỷ tiếp theo (1966-1988), với sự khai quật siêng năng của nhà khảo cổ học Kenan Erim, di tích của một thành phố cổ xưa phát lộ trước sự ngạc nhiên của mọi người. Dù đã bị hủy hoại khá nhiều nhưng vẫn còn thấy rõ được các khu vực như quảng trường, nhà tắm công cộng và đền thờ của Nữ thần Aphrodite. Thành phố này đã từng phát triển rất mạnh mẽ trong suốt bảy thế kỷ trước khi bị những cuộc chiến tranh và động đất hủy hoại nó.
Tham khảo: HowStuffWorks

Những bí ẩn kinh hoàng trong Tử Cấm Thành

Đối với người dân Trung Quốc, Tử Cấm Thành luôn được xem là một địa điểm có ... ma ám

Tọa lạc ngay tại trung tâm của Bắc Kinh và là nơi xây nên khu Bảo Tàng Cung Điện, trong suốt 600 năm qua, Tử Cấm Thành luôn được xem là hoàng cung của Trung Quốc từ triều Minh cho tới cuối nhà Thanh. Không chỉ có giới hoàng tộc, đây cũng là nơi sinh hoạt của rất nhiều phi tần và người hầu sẵn sàng phản bội và hãm hại nhau để tranh giành ảnh hưởng. Các số liệu cho thấy đã từng có tới hàng ngàn tính mạng đã bị giết hại trong lịch sử đẫm máu của Tử Cấm Thành. Như một hệ quả tất yếu, rất nhiều du khách và người làm công ở đây khẳng định rằng mình đã từng thấy ma, điển hình như một nhóm người hầu đang đứng đợi hoặc các hoạn quan đi ngang qua.

Những sự việc ma quái
Fat Fu, một quân nhân từng phục vụ tại Tử Cấm Thành vào năm 1995, có lẽ chính là người đầu tiên cho rằng mình đã nhìn thấy ma trong lúc nào việc. Câu chuyện diễn ra vào một buổi chiều tháng Mười khi mà hai đồng sự của anh ta đã đụng độ với một hồn ma. Họ chạy vào phòng trực lúc 9 giờ tối với sự bối rối và sợ hãi tột độ.


Một người kể lại rằng nhóm đã gặp một người phụ nữ với tóc dài và áo choàng đen trong khu vực tuần tra. Họ hét lên gọi người phụ nữ này tuy nhiên cô ta lại chạy đi. Nhóm nhận ra đây không phải là người làm việc tại Tử Cấm Thành và có thể là một tên trộm. Cả hai bắt đầu đuổi theo và cô gái luôn giữ khoảng cách tầm 30 mét so với họ. 


Cô gái này hoàn toàn không có mặt

Cuộc rượt đuổi kết thúc khi hai người lính gác dồn được cô gái vào trong góc của một căn phòng bị khóa, họ yêu cầu cô gái quay mặt ra. Đây cũng là lúc, họ bị sốc và ngay lập tức làm rơi đèn pin của mình vì người đứng trước mặt không hề có mặt, chỉ có tóc mà thôi.

Các sự việc về hồn ma vẫn cứ thế tiếp tục diễn ra tại Tử Cấm Thành từ thời đó cho tới nay và phần lớn xảy ra với những người canh cổng. Sự việc thường thấy ở ban đêm đó là họ có thể nghe thấy tiếng nhạc từ đâu đó xung quanh cung điện và luôn nhìn thấy một số nhóm hầu gái cũng như thái giám đi qua. 


Các nhóm thái giám hay hầu gái thường xuyên đi qua

Mọi người còn đưa ra giải thích rằng, tiếp xúc với năng lượng âm quá nhiều đã khiến cho những người gác cổng bị suy nhược về sức khỏe, nó còn thậm chí gây hại cho cả thế hệ về sau của họ.

Suy nghĩ của người dân Bắc Kinh

Các câu chuyện cũng như giai thoại liên quan đã và đang ngày càng phổ biến. Nó lan tôa thông qua các câu chuyện hàng ngày của người dân. Rất nhiều người, đặc biệt là bộ phận người cao tuổi tin vào sự thật rằng các hồn ma thực sự tồn tại. 


Còn có người khẳng định rằng mình từng trải nghiệm cảm giác gặp các hồn ma khi liên tục nghe thấy các tiếng gọi “Nó là của tôi! Nó là của tôi!” xung quanh mình trong đêm sau khi ông ta trở về từ triển lãm đồ trang sức từng đươc sử dụng tại Tử Cấm Thành. Đây thực sự là một câu chuyện đầy bí ẩn và đáng sợ.

Lí giải của các nhà khoa học

Cho tới nay, vẫn chưa có bất kì một cuộc điều tra khoa học nào được diễn ra trong Tử Cấm Thành để nghiên cứu về các hồn ma. Một phần vì người dân đã có niềm tin quá lớn vào sự tồn tại của những hiện tượng siêu nhiên. Và phần khác đến từ chính sách bảo vệ của chính phủ Trung Quốc. Vì thế mà, tấm màn bí ẩn về những điều kì quái diễn ra mỗi phi màn đêm bao phủ quanh Tử Cấm Thành vẫn còn đó và tiếp tục phát triển.
Tìm hiểu sơ qua chút về Tử Cấm Thành:

Tử Cấm Thành - thành trong thành - là trung tâm Bắc Kinh với mái nhà ngói lưu ly màu vàng, sông hộ thành và tường vây ngăn màu đỏ ngăn cách thế giới bên ngoài, khiến dân chúng không thể đến gần. Tử Cấm Thành là quần thể kiến trúc bằng gỗ cổ đại quy mô lớn nhất, hoàn chỉnh nhất hiện còn trên thế giới.

Là trung tâm của Trung Hoa, nhưng trong mắt của người Trung Quốc, Tử Cấm Thành lại là trung tâm thế giới. Hoàng đế hai triều Minh, Thanh đã sống và những ngày cuối cùng tại đây, cho tới năm 1911, khi đế chế diệt vong.

Tử Cấm Thành.

Tử Cấm Thành xây dựng năm 1406 (năm Vĩnh Lạc thứ 4 đời Minh) trải qua 14 năm mới hoàn thành. Năm 1421, hoàng đế Vĩnh Lạc dời quốc đô từ Nam Kinh lên Bắc Kinh, hao tốn lực lớn nhân tài và vật chất để xây dựng nên quần thể kiến trúc tương xứng với sự tôn nghiêm của hoàng gia. Năm 1644, quân Thanh lật đổ triều Minh, Tử Cấm Thành rơi vào cảnh cướp bóc. Hoàng đế triều Thanh lên ngai vàng, họ xây lại Tử Cấm Thành, đưa nó trở lại vẻ huy hoàng. Không chỉ vậy, họ còn xây thêm đền miếu, điện đường, hồ và đình viên cảnh sắc mê hồn. Đến cuối thế kỷ 18, sự huy hoàng của Tử Cấm Thành đã đạt đến mức đỉnh cao.

Tử Cấm Thành hình vuông, bố cục lấy tuyến giữa chính Nam, chính Bắc đối xứng, chung quanh là con sông hộ thành rộng và tường cao 9 mét. Trong thành bố trí một cách đối xứng cung điện, cửa, viện, sông nhỏ và đình viên. Tổng cộng có 9.999 gian phòng dành riêng cho hoàng đế và quyến thuộc, bao gồm thái hậu, hậu phi và các hoạn quan, cung nữ. Trong cung hình thành nên quy tắc, lễ nghi cấm kỵ, vô cùng phức tạp. Và Tử Cấm Thành trở thành cái lồng vàng, ở đó hoàng đế và những người hầu đều tránh né thế giới chân thực bên ngoài.

Các kiến trúc chủ yếu của Tử Cấm Thành đều chầu về hướng nam, đạt mục đích tránh gió lạnh từ Siberi và quỷ thần phương Bắc bất lợi. Cửa chính Ngọ môn ở mặt Nam là nơi hoàng đế kiểm duyệt quân đội. Qua khỏi Ngọ môn là một đại viện, kim thủy hà xuyên ngang, trên sông có năm cầu đá cẩm thạch, đạo diện cho ngũ đức. Qua cầu là tới Thái Hòa môn. Bên trong cửa có viện lạc lớn, chứa tới 90.000 người.

Ở một đầu mút khác, trên nền đá cẩm thạch đứng sừng sững là vật thể kiến trúc cao lớn nhất Tử Cấm Thành - Thái Hòa điện. Trong điển lễ quốc sự quan trọng, hoàng đế trang nghiêm ngồi trên Thái Hòa điện, trong từng tiếng chuông vàng khói trầm nghi ngút, tiếp nhận sự quỳ lạy của trăm quan và những phụ nữ cao sang.

Qua khỏi Thái Hòa điện là hai đại điện: Trung Hoa điện và Bảo Hòa điện. Đi về phía Bắc là Càn Thanh cung, nơi hoàng đế và quyến thuộc cư trú. Đầu tận cùng phía Bắc của quần thể kiến trúc này là Ngự hoa viên, cổ kính, trang nhã, sang trọng, bên trong có Thái hồ với cây cối, tượng điêu khắc, lâu đài đình các, ao nước và thác. Chỗ vào cửa khu viên lâm yên tĩnh được gọi là Khôn Ninh môn.

Sau năm 1949, Tử Cấm Thành được đổi làm Viện bảo tàng Cố Cung.
Nguồn: luubuttuoixanh.com ( Tổng hợp từ Soha)

Sừng tê giác hoàn toàn không có tác dụng chữa bệnh

Các nghiên cứu khoa học đều chứng minh, sừng tê giác hoàn toàn không có tác dụng chữa bệnh giống như những lời đồn đoán.

Sừng tê giác chữa bách bệnh


Tê giác lớn một sừng (Rhinoceros unicornis), tại Vườn quốc gia Chitwan, Nepal

Sừng tê giác được coi là một vị thuốc thần diệu của y học cổ truyền Trung Quốc. Hàng ngàn năm, y học cổ truyền Trung Quốc dùng sừng tê để chữa một số lớn các bệnh có phổ rộng bất thường từ sôi bụng đến ung thư, thậm chí cả bệnh do ma quỷ ám.

Do ảnh hưởng của Trung Quốc, người Việt Nam cũng cho là như vậy. Khi các đất nước này còn nghèo, không ai nghĩ đến sừng tê giác, nhưng kinh tế phát triển, xuất hiện nhiều người giàu có, thị trường tiêu thụ sừng tê giác bỗng hồi sinh.

Theo sách kinh điển của Y học Trung Hoa là “Bản thảo cương mục” của Lý Thời Trân, được dịch vào năm 1931 ghi lại 1597 dược liệu thì sừng tê giác đã được coi là chữa bách bệnh. Trớ trêu thay, có vẻ như tác dụng thần hiệu của sừng tê giác không đề cập một câu nào đến một căn bệnh là mục tiêu chính làm các “đại gia” tìm đến nó là chữa các bệnh giảm ham muốn tình dục.

Mặc dù Trung Quốc là một nước đã ký kết Công ước thế giới về buôn bán các loài có nguy cơ tuyệt chủng (CITES) và cấm kinh doanh sừng tê giác năm 1993, nhưng điều tra mức độ săn trộm tê giác hiện tại cho thấy rằng ở nước này việc sử dụng sừng tê giác không suy giảm.

Vậy sừng tê giác có tác dụng chữa bệnh như người ta vẫn đồn đoán?

Đưa sừng tê giác vào phòng thí nghiệm
Trong một nỗ lực để bác bỏ những tính chất chữa bệnh thần kỳ gán ghép cho sừng tê giác, các khà khoa học đã đưa sừng tê giác vào phòng thí nghiệm y học.

Việc thử nghiệm tác dụng trị liệu của sừng tê giác đã được thực hiện vào năm 1983 do các nhà nghiên cứu tại Hãng dược phẩm hàng đầu Hoffmann-LaRoche, và sau đó 25 năm là một nghiên cứu của Hội Động vật học London. Cả hai nghiên cứu đi đến kết luận tương tự: sừng tê giác không chứa các hoạt chất đặc biệt nào có khả năng trị bệnh.

Ngoài ra, một công trình nghiên cứu khác nữa do các nhà khoa học Trường ĐH Trung Quốc ở Hong Kong vào năm 1990. Mặc dù các nhà khoa học ở đây cố gắng chứng minh “một cái gì đó sâu sắc” của Y học cổ truyền Trung Hoa nhưng vẫn không thể tìm ra một bằng chứng hỗ trợ nào cho tính chữa bệnh của sừng tê giác.

Năm 1983, Quỹ Động vật Hoang dã Thế giới (WWF) và Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên (IUCN) công bố kết quả của nghiên cứu dược lý mà các nhà khoa học đã tiến hành tại Phòng thí nghiệm của Công ty dược phẩm Hoffmann-LaRoche trên Tạp chí The Environmentalist.

Nghiên cứu “không tìm thấy bằng chứng nào chứng tỏ sừng tê giác có tác dụng chữa bệnh dù dễ nhất như hạ sốt”. “Sừng tê giác về bản chất hoá học giống như chiếc móng tay, được làm bằng tóc kết bó lại với nhau mà thôi”. Đó là kết luận của nghiên cứu khoa học.

Các thử nghiệm khẳng định rằng “không có khả năng hạ sốt, không có khả năng chống viêm, không có khả năng giảm đau, không có khả năng chống co thắt, không có khả năng làm lợi tiểu” mà cũng “chẳng có tác dụng diệt vi khuẩn gây mưng mủ và vi khuẩn đường ruột” .

Tiến sĩ Arne Schiotz của WWFkết luận: “Điều này chứng tỏ rằng sừng tê giác là không mang lại lợi ích cho bất cứ ai, trừ người chủ ban đầu của nó mà thôi”.

Tất cả chỉ là huyền thoại
Phân tích khoa học đã khẳng định rằng coi sừng tê giác là một thần dược chỉ là huyền thoại, nhưng huyền thoại ấy vẫn tồn tại ở hàng triệu người. Vì sao vậy ?
Đơn giản là vì người tiêu dùng sừng tê giác không truy cập vào thông tin chính xác.

theo vnn

 
blogcongnghe © 2012 | Thiết kế bởi Tâm Nguyên